VĂN PHÒNG TƯ VẤN LUẬT THỪA KẾ

Nhanh chóng - uy tín - chuyên nghiệp

Văn phòng tư vấn luật thừa kế - Luật sư Quang Thái

Tư vấn về quy định truất quyền hưởng di sản

1. Quy định về truất quyền thừa kế

Điều 626 BLDS quy định về quyền của người lập di chúc:

Người lập di chúc có quyền sau đây:

-         Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế.

-         Phân định phần di sản cho từng người thừa kế.

-         Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng.

-         Giao nghĩa vụ cho người thừa kế.

-         Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.

Từ quy định trên cho thấy, truất quyền hưởng di sản của người thừa kế là một trong các quyền mà người để lại di sản có thể thực hiện theo luật định. Việc truất quyền thừa kế của một người được người để lại di sản ghi nhận trong nội dung di chúc và không phải giải thích lý do.

Theo Bộ Luật Dân sự thì luật chỉ quy định chung về quyền truất quyền của người lập di chúc không quy định cụ thể về điều kiện để truất quyền có giá trị pháp lý. Do vậy, để truất quyền được xem là hợp pháp thì phải xem xét đến di chúc vì chúng có mối quan hệ với nhau. Tuy nhiên, di chúc không phải luôn luôn gắn liền với truất quyền.

2. Người bị truất quyền thừa kế thì có được hưởng thừa kế theo diện thừa kế kế không phụ thuộc nội dung di chúc không?

Điều 644 BLDS quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc:

“1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.”

Căn cứ theo quy định trên thì đối với những đối tượng là con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng, con thành niên mà không có khả năng lao động thì sẽ được hưởng di sản khi không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật. Bên cạnh đó khoản 2 cũng quy định rõ nội dung trên không áp dụng đối với những người từ chối nhận di sản, những người không có quyền hưởng di sản. Ngoài 2 đối tượng này thì không còn ai bị hạn chế về việc được nhận di sản theo quy định tại Điều 644 BLDS;

Kết luận: người bị truất quyền thừa kế vẫn có quyền được hưởng di sản nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự.

BAN BIÊN TẬP - VĂN PHÒNG LUẬT SƯ QUANG THÁI


Bài viết liên quan
Hướng dẫn quy định thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc

Hướng dẫn quy định thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc

Theo quy định của Bộ Luật Dân sự 2015, Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Do đó, cá nhân hoàn toàn có quyền tự định đoạt đối với tài sản của mình trong di chúc sẽ cho ai hưởng di sản. Mặc dù, đó là quyền cơ bản của người để lại di sản nhưng trong ...

Hướng dẫn về quy định hưởng di sản thừa kế đối với thai nhi.

Hướng dẫn về quy định hưởng di sản thừa kế đối với thai nhi.

Trên thực tế, thai nhi mặc dù chưa được sinh ra đời nhưng vẫn được pháp luật Việt Nam bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Vậy quyền hưởng di sản thừa kế thì pháp luật quy định như thế nào? Liệu thai nhi có đủ điều kiện để được hưởng di sản thừa kế hay không?

Tranh chấp về việc chia di sản thừa kế khi đã hết thời hiệu khởi kiện

Tranh chấp về việc chia di sản thừa kế khi đã hết thời hiệu khởi kiện

Như vậy, quá thời hạn 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế mà có tranh chấp về việc chia di sản thừa kế giữa những người đồng thừa kế thì họ không được áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp. Để hướng dẫn cụ thể ...

Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai

Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai

Tranh chấp đất đai (TCĐĐ) là loại tranh chấp phổ biến nhất trong thực tiễn xét xử hiện nay, vì vậy nhà làm luật quy định hòa giải là một thủ tục mang tính chất bắt buộc trước khi xét xử tại Tòa án là điều cần thiết. Luật Đất đai (LĐĐ) năm 2013 bên cạnh việc kế thừa quy định này từ LĐĐ năm 2003 cũng đã có những điểm mới sửa ...

Xem tất cả »


Tư vấn pháp luật

© 2014 - Bản quyền Văn Phòng Luật Sư Quang Thái

Đặt lịch